
Với phương châm “Đoàn kết – Dân chủ – Kỷ cương – Đột phá – Phát triển”, Đại hội đã thảo luận dân chủ và thông qua Báo cáo chính trị, các báo cáo chuyên đề và Nghị quyết Đại hội XIV, trong đó đề ra chủ trương, quyết sách, các nhiệm vụ trọng tâm, các đột phá chiến lược trong giai đoạn 2026-2030, tầm nhìn đến năm 2045. Văn kiện Đại hội XIV là kết tinh trí tuệ, ý chí, khát vọng của toàn Đảng, toàn dân, phản ánh tư duy đổi mới và quyết tâm phát triển mạnh mẽ của Việt Nam trong giai đoạn mới. (Tới đây, toàn bộ văn kiện Đại hội sẽ được dịch sang 08 thứ tiếng[1], chúng tôi sẽ gửi đến quý vị để tham khảo).
1. Đánh giá nhiệm kỳ Đại hội XIII, Đại hội đã tổng kết sâu sắc kết quả thực hiện Nghị quyết Đại hội XIII (2021-2025) trong bối cảnh đất nước đối diện nhiều khó khăn, từ thiên tai, dịch bệnh, rủi ro an ninh phi truyền thống, đến cạnh tranh chiến lược gay gắt và biến động kinh tế toàn cầu. Dưới sự lãnh đạo vững vàng của Đảng, sự chung sức đồng lòng và sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc, Việt Nam đã hoàn thành cơ bản các nhiệm vụ trọng tâm, nhiều chỉ tiêu đạt và vượt, tạo nền tảng cho bước phát triển mới. Nền kinh tế giữ vững ổn định vĩ mô, duy trì đà tăng trưởng khá. Nhiều quyết sách chiến lược mang tính đột phá đã được triển khai quyết liệt, đặc biệt là cuộc cách mạng về đổi mới, sắp xếp, tinh gọn tổ chức bộ máy và đơn vị hành chính. Môi trường hòa bình được giữ vững; chính trị-xã hội ổn định; quốc phòng, an ninh, trật tự, an toàn xã hội được bảo đảm; đối ngoại, hội nhập quốc tế được mở rộng, nâng tầm và đi vào chiều sâu. Bên cạnh những thành tựu quan trọng, Đại hội thẳng thắn nhìn nhận những hạn chế, tồn tại và những điểm nghẽn cần tập trung tháo gỡ về thể chế, nguồn lực, công nghệ, hạ tầng, tổ chức thực hiện… và nhiều thách thức mới về an ninh đang đặt ra.
2. Nội dung và kết quả của Đại hội XIV:
Đại hội đã xác định bước vào giai đoạn mới, thế giới được dự báo tiếp tục chuyển dịch mạnh về cấu trúc quyền lực, mô hình tăng trưởng và trật tự kinh tế; các xu hướng lớn như chuyển đổi số, kinh tế xanh, chuyển đổi năng lượng, kinh tế tuần hoàn, tái cấu trúc chuỗi cung ứng, cạnh tranh công nghệ, an ninh dữ liệu; cùng với các thách thức như biến đổi khí hậu, già hóa dân số, bất bình đẳng, rủi ro xung đột… đặt ra yêu cầu cần phải nâng cao năng lực thích ứng và năng lực tự chủ chiến lược.
Đối với Việt Nam, thời cơ và thách thức đặt ra là rất lớn và đan xen. Trong bối cảnh đó, Đại hội đặt ra yêu cầu: phải nhìn thẳng vào sự thật, đánh giá đúng tình hình; quyết tâm đổi mới tư duy, hoàn thiện thể chế, nâng cao năng lực quản trị quốc gia; hành động mạnh mẽ, quyết liệt, đột phá, hiệu quả.
Trên tinh thần đó, Đại hội đã thảo luận kỹ lưỡng và đề ra nhiều chủ trương, quyết sách quan trọng trên mọi lĩnh vực, trong đó xác định: phát triển kinh tế-xã hội, bảo vệ môi trường là trung tâm; xây dựng Đảng là then chốt; phát triển văn hóa, con người là nền tảng; tăng cường quốc phòng, an ninh và đẩy mạnh đối ngoại, hội nhập quốc tế là trọng yếu, thường xuyên. Đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số quốc gia là động lực trung tâm của phát triển.
2.1. Mục tiêu phát triển 2026-2030 và tầm nhìn 2045:
Đại hội XIV có trọng trách lịch sử là xác lập những quyết sách mang tính “bệ phóng” để thực hiện thành công hai mục tiêu chiến lược 100 năm của đất nước: 100 năm đất nước dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam (1930-2030) và 100 năm thành lập nước (1945-2045). Tư tưởng xuyên suốt của Văn kiện Đại hội XIV là “Dân là gốc”. Nhân dân là trung tâm, là chủ thể, là mục tiêu và là động lực của phát triển.
– Mục tiêu tổng quát: (i) Giữ vững môi trường hoà bình, ổn định; phát triển nhanh, bền vững đất nước; cải thiện và nâng cao toàn diện đời sống nhân dân; (ii) Tự chủ chiến lược, tự cường, tự tin, tiến mạnh trong kỷ nguyên mới của dân tộc; (iii) Thực hiện thắng lợi mục tiêu đến năm 2030 trở thành nước đang phát triển có công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao; hiện thực hoá tầm nhìn đến năm 2045 trở thành nước phát triển, thu nhập cao; (iv) Phấn đấu đạt tốc độ tăng trưởng tổng sản phẩm trong nước (GDP) bình quân cho giai đoạn 2026-2030 từ 10%/năm trở lên; GDP bình quân đầu người đến năm 2030 đạt khoảng 8.500 USD/năm.
– Quan điểm chỉ đạo: (i) Kiên định hệ quan điểm chỉ đạo mang tính nguyên tắc về sự lãnh đạo của Đảng, chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và đường lối đổi mới; không ngừng bổ sung, hoàn thiện phù hợp với thực tiễn; (ii) Kết hợp chặt chẽ, đồng bộ các nhiệm vụ: phát triển kinh tế, xây dựng Đảng, phát triển văn hóa và con người, tăng cường quốc phòng an ninh và đẩy mạnh đối ngoại, hội nhập quốc tế là trọng yếu, thường xuyên; (iii) Khơi dậy mạnh mẽ truyền thống yêu nước, khát vọng phát triển, ý chí tự chủ, tự tin, tự lực, tự cường, tự hào dân tộc; (iv) Phát huy sức mạnh, bản lĩnh, trí tuệ con người Việt Nam, khối đại đoàn kết toàn dân tộc và thế trận lòng dân; kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại; (v) Tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh toàn diện.
– Các định hướng lớn:
(i) Hoàn thiện thể chế phát triển và Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa: thể chế là “điểm nghẽn của điểm nghẽn” nhưng cũng là “đột phá của đột phá”, phải tiếp tục hoàn thiện thể chế phát triển, tháo gỡ rào cản, khơi thông nguồn lực, tạo động lực phát triển;
(ii) Xác lập mô hình tăng trưởng mới: tăng trưởng phải dựa chủ yếu vào năng suất, chất lượng, hiệu quả, đổi mới sáng tạo; triển khai quyết liệt chuyển đổi xanh, chuyển đổi năng lượng, phát triển kinh tế tuần hoàn; phát huy mạnh mẽ vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước; phát triển khu vực kinh tế tư nhân là một động lực quan trọng nhất của nền kinh tế.
(iii) Khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số được xác định trở thành động lực then chốt của tăng trưởng; tập trung phát triển hạ tẩng số, dữ liệu số, xây dựng Chính phủ số, kinh tế số, xã hội số.
(iv) Phá triển văn hóa và con người: xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc; khơi dậy tinh thần yêu nước, ý chí tự cường, khát vọng vươn lên; hoàn thiện chính sách xã hội hướng tới bao trùm, công bằng và hiệu quả.
(v) Quốc phòng, an ninh và đối ngoại: giữ vững môi trường hòa bình, ổn định để phát triển; tiếp tục củng cố quốc phòng, an ninh; đối ngoại tiếp tục giữ vai trò tiên phong trong bảo đảm lợi ích quốc gia-dân tộc.
(vi) Xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh toàn diện; công tác cán bộ tiếp tục được xác định là “then chốt của then chốt”.
(vii) Xây dựng xã hội Việt Nam lành mạnh, kỷ cương, văn hóa, văn minh, tiến bộ vừa là điều kiện, vừa là nền tảng cho phát triển bền vững.
(viii) Đại đoàn kết toàn dân tộc là nền tảng hội tụ và phát huy cao nhất sức mạnh của Nhân dân.
– Các đột phá chiến lược: (i) Đột phá về thể chế và thực thi, lấy hiệu quả phục vụ Nhân dân và doanh nghiệp là thước đo; (ii) đột phá về nguồn nhân lực chất lượng cao gắn với khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo; (iii) đột phá về hạ tầng đồng bộ, hiện đại. Ba đột phá này có quan hệ hữu cơ. Thể chế mở đường, nhân lực quyết định tốc độ và chất lượng; hạ tầng tạo không gian và sức bật.
2.2. Về đường lối đối ngoại:
Trên cơ sở tổng kết thực tiễn và kế thừa đường lối đối ngoại qua các thời kỳ, Đại hội XIV tiếp tục khẳng định Việt Nam thực hiện nhất quán đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, tự cường, hoà bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển, đa phương hoá, đa dạng hoá quan hệ đối ngoại; chủ động, tích cực đóng góp vào hoà bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển bền vững trên tinh thần là bạn, là đối tác tin cậy, là thành viên tích cực, có trách nhiệm của cộng đồng quốc tế; tham gia chủ động, có trách nhiệm vào việc giải quyết các vấn đề chung của khu vực và quốc tế. Việt Nam triển khai đồng bộ, toàn diện, hiệu quả các hoạt động đối ngoại trên cả 3 trụ cột: Đối ngoại đảng, ngoại giao nhà nước, đối ngoại nhân dân thống nhất từ Trung ương đến địa phương.
Việt Nam chủ trương thúc đẩy quan hệ hữu nghị với các nước láng giềng, các nước lớn, các nước Đông Nam Á, các nước bạn bè truyền thống và các đối tác quan trọng, tiềm năng khác đi vào chiều sâu, thực chất, ổn định, tăng độ tin cậy và bền vững lâu dài; đẩy mạnh và nâng tầm đối ngoại đa phương; đề cao, bảo vệ và phát huy vai trò của luật pháp quốc tế và Hiến chương Liên hợp quốc; vai trò thành viên chủ động, tích cực, quan trọng và có trách nhiệm tại các cơ chế đa phương như ASEAN, Liên hợp quốc, hợp tác tiều vùng Mê Công.
Thành công rất tốt đẹp của Đại hội XIV thể hiện niềm tin, ý chí, quyết tâm và tầm nhìn phát triển mới của Việt Nam. Trên hành trình thực hiện các mục tiêu phát triển trong giai đoạn mới, chúng tôi mong muốn sẽ tiếp tục nhận được sự đồng hành, hỗ trợ của các bạn, cùng nỗ lực và phấn đấu vì hòa bình, ổn định, hợp tác và phát triển ở khu vực và trên thế giới. Nhân dịp này, chúng tôi xin chân thành cảm ơn các bạn đã gửi thư, điện chúc mừng Đại hội XIV của chúng tôi, thể hiện tinh thần đoàn kết, hữu nghị, hợp tác và tình cảm đối với Đảng, đất nước và nhân dân Việt Nam../.
[1] Anh, Pháp, Nga, Tây Ban Nha, Trung Quốc, Lào, Khơ-me, Ả-rập.