Bà giáo nghèo với khát vọng nối dài con chữ ở cửa biển Hậu Lộc

01/07/2020 09:46

    Đã hơn 17 năm, kể từ ngày cô giáo Nguyễn Thị Thông, thôn Thành Lập, xã Ngư Lộc, huyện Hậu Lộc, tỉnh Thanh Hóa lập ra lớp học với tất cả tình thương đó. 17 năm qua, bà đã hiến dâng tình yêu, sức lực và cả tuổi trẻ của mình để truyền thụ kiến thức cho những em nhỏ có hoàn cảnh đáng thương, không gì hơn là một khát vọng: Biết đọc và biết viết.

      Bấy nhiêu năm bận bịu với công việc dạy học cao cả, cô vẫn là trinh nữ, là bà giáo hiến dâng cả lẽ sống bác ái cho một ước mơ  không thể lay chuyển nổi có tên gọi “tử tế”. Ngay cả khi đã gặp bà, tôi vẫn từng không tin trên đời lại có người phụ nữ hết lòng vì sự nghiệp giáo dục đến thế. Rất rất nhiều người gặp gỡ, tiếp túc và trò chuyện đều gọi bà là “mẹ Thông”, dẫu bà chỉ khiếm tốn nói rằng: bà làm vì trách nhiệm, bởi không có học cuộc đời sẽ trở nên tăm tối và chẳng biết đi đâu về đâu. Dằng dặc những ngày sau đó, bà vẫn lặng lẽ gieo mầm con chữ ở cửa biển ầm áo tiếng sóng ấy.
Một lời hứa, cả đời trăn trở
      Cho đến trước khi gặp gỡ, tiếp túc với cô giáo Thông, tôi cứ nghĩ việc bà Thông mở lớp dạy học kia để để đánh bóng tên tuổi hoặc thổi phông lên cho sinh động thôi, nhưng rồi hóa ra ngược lại: sự ca ngợi ấy của mọi người mới diễn chỉ tả được một phần tấm lòng cao cả mà bà giáo Thông đang làm. Miền tôi đến, cửa biển Hậu Lộc vẫn ầm ào sóng xô. Đặt chân lên cửa biển Hậu Lộc là gặp ngay cát trắng, cát ràn rạt khắp nơi, cát len trong nhà, trong cửa, cát ôm ấp những phận người lam lũ. Bao đời nay, người dân xứ Thanh vẫn sống trên cát, cát trở thành  làm nên tính cách trong cuộc đời của họ. 
Người ta kể rằng, suốt mười mấy năm qua, có một phụ nữ không gia đình, không chồng con, âm thầm mở lớp dạy học cho các em với đủ mọi số phận cơ cầu. Bà đi xin từng chút kinh phí để xây dựng trường, lớp, cơi nới bàn học, mua đạo cụ giảng dạy truyền dạy kiến thức cho các học sinh, mà lứa tuổi ấy dễ chừng cũng cách bà đến mấy thập niên. Cuộc đời bà giáo Thông là một tấm gương rơi nước mắt về một người thầy quên mình vì sự nghiệp giáo dục ngày mai của tuổi trẻ. Điều đáng nói là, tự bà chứ không phải ai khác là người lãnh lấy trách nhiệm và sứ mệnh cao cả này. Nói thì thật dễ, nhưng có mấy ai trong cuộc đời này tận tâm đến cùng với khát vọng nối dài con chữ  như bà Thông. Bà bắt đầu từ giáo dục và kết thúc cũng ở giáo dục, và dường như đó là một duyên nợ tiền định mà hình như chính bà cũng chưa bao giờ hình dung nổi. Nghe đến câu chuyện ấy, bỗng nhiên tôi nhận ra, ở bà ngoài tố chất là một cô giáo –theo đúng y nghĩa thông thường của từ này, thì đó là một tấm lòng, một sự dấn thân thực sự chứ không chỉ làm cho có. 
     Bà Thông năm nay đã 70 tuổi, gương mặt phúc hậu, tóc vẫn chưa hoa dâm, răng vẫn đều chằn chặn, tiếng nói và lời giảng vẫn sang sảng như chuông đồng. Lớp học của bà giáo Thông nằm bên bờ phải cửa biển Hậu Lộc, chỉ vỏn vẹn vài ba bộ bàn ghế đơn sơ. Tiếng là lớp học, chứ thực ra đó chỉ là cái phòng nhỏ. Mặc dù có cái tên nghe kêu như vậy, nhưng lớp học này nằm trơ trọi ở một nơi, và cứ ngày một thưa thớt đi ngay từ những ngày đầu thành lập: tính đến nay đã mười bảy năm – mà hầu hết đều dạy những em học sinh lớn lên hẳn hoi, chứ không chỉ đơn thuần là tiếng tăm – như lời đồn thổi, chỉ dựng lên cho có. Những ngôi trường được đầu tư tầm cỡ thì chẳng nói làm gì, lý do thật dễ hiểu, nhưng ở lớp học của bà Thông, cha mẹ phụ huynh, các em học sinh tìm đến cao hơn học chữ đó là học làm người, cách sống làm người. Nhìn hình ảnh những bậc phụ níu nhíu gửi con trong đến lớp học, người ta không khỏi thán phục một tấm lòng không chỉ của cô giáo, mà đúng hơn là một người bà yêu thương con trẻ. Nhớ lại những ngày đầu dựng trường, trước mắt còn bao khó khăn, nào chọn địa điểm, nào đạo cụ giảng dạy, nào phương pháp truyền thụ, nhưng cái khó là làm sao để các bậc phụ huynh có thể yên tâm mà giao phó con mình, đó quả là một sự thử thách tuyệt đối đối với cô Thông. Thế mà năm tháng qua đi, các em học sinh tìm đến ngày một lớn hơn, đông đúc hơn, ai cũng nhìn thấy tương lai, tiền đồ, chứ trước đó tất cả đều ở bên bến bờ tuyệt vọng vì thiếu học, khát chữ. 


      Số phận đữa đưa bà Thông từ cô bé trở thành giáo viên nhân dân, rồi bây giờ lại tiếp tục neo đậu đời mình ở bến học. Bến học đúng là không bờ bến. Những năm tháng tuổi thơ túng quẫn, gia cảnh neo nghèo, có đôi lúc khiến cô bé Thông phải lỡ dở việc học hành. Bố mẹ có biết gì chữ nghĩa đâu, cả một đời làm lụng, gắn bó với mảnh vườn, góc sân. Còn cô bé Thông thì lao vào học hành như người ta lao xuống nước- chẳng đắn đo suy tính gì nhiều: không có chữ thì đòi suốt đời, vì ai cũng mong muốn thoát khỏi chuyện kém hiểu biết – vậy thì không học hôm nay lấy gì sống cho ngày mai? Vả lại, không có học sẽ ra sao, trong xã hội văn minh như thế nào, cô cũng chưa hình dung ra được. Học mãi, học mãi, đến mùa thu năm 1965, thì cô Thông thi đỗ vào trường 7 cộng 2 Thanh Hóa, nơi mở ra cả một chân trời tri thức cho một tâm hồn bé nhỏ như cô. Sẵn chí hướng đó, cô học lên cao đẳng sư phạm, rồi về hoạt động chuyên nghiệp ở nhiều nơi Đông Minh, Đông Sơn, Hòa Lộc, Đa Lộc. Thời kỳ này là đánh dấu sức công hiến đầy nhiệt huyết của bà Thông. Cố nhiên trong đời hoạt động giáo dục của mình, bà Thông vấp phải không ít khó khăn (vì nghề dạy học lúc đó là nghề không được ưa chuộng, đồng lương ít ỏi). Nhưng rồi năm tháng trôi qua, bà Thông cũng quen dần với nghề, bà trở nên thích nghi hơn, yêu nghề hơn, yêu chữ hơn, vì dù sao bà hiểu rằng: số phận đã đưa bà đến với con chữ, không có lựa chọn nào khác. Phía trước chỉ còn một con đường, nhưng chắc chắn sẽ dẫn tới thành công, nhưng còn gặp khó khăn...Không làm sao được. Nhưng chính sự không có lựa chọn nào ấy lại khiến bà Thông tập trung vào mục tiêu dạy học. Bây giờ bà chỉ phải sống với một ý nghĩa mà thôi: xóa mù chữ cho trẻ nghèo, mặc cho ai nói ra nói vào.
      Nhưng cứ lao vào làm, bà  cũng không biết có đến những 30 năm hoạt động giáo dục chuyên nghiệp, bà dạy học rất vô tư, chẳng qua vì biết rằng việc học hành nó có tầm quan trọng thế nào, bà chỉ hơi tiếc vì tuổi cao sức yếu. Vì vậy, năm 1997, bà được Nhà nước phong tặng danh hiệu Nhà giáo ưu tú. Năm 2001, bà Thông bắt đầu được nghỉ chế độ. Tuy thế bà vẫn chưa thấy nhẹ nhõm hơn. Lòng vẫn còn canh cánh, day dứt điều gì đó. Cái khát vọng dạy học chưa trút bỏ - không, nó lại càng đè nặng thêm, chẳng cần nghĩ cách trút bỏ nó làm gì, nhưng bà đã hiểu rõ một điều – tựa như sau khi “lá rụng về cội” và chiêm nghiệm, bà Thông bỗng nhận ra mình còn sức, cần phải làm thêm một điều gì đó ý nghĩa, dù bé, dù nhỏ, dù đơn giản hơn nhiều so với hy vọng, nhưng bây giờ phải thực hiện ngay kẻo chẳng còn thời gian nữa. Chỉ có điều là liệu một mình có kham nổi không, có đủ sức vì sự nghiệp giáo dục nữa không? Nhưng dù sao, ở tuổi nay, bà đã hiểu bà không cảm thấy cô đơn vì không có gia đỉnh, thanh xuân của bà là ở trường, ở lớp, thấy tiếng nói trẻ thơ, thấy học sinh khôn lớn trưởng thành. Vì bây giờ số phận gắn buộc cô với sự nghiệp giáo dục rồi. Nói tóm lại là, khi nghiệp đã vận vào thân rồi, thì cứ mặc cho nó dẫn đi, chừng nào nghiệp còn lành thì mình còn có ích.
Cũng như bất cứ đứa trẻ nào cũng muốn đến trường, từ bé bà Thông đã ước mơ hạnh phúc cho mình, tô điểm cho hạnh phúc ấy bằng con đường tự học và dạy học mỗi năm một thay đổi của bà. Khi còn là con gái, và khi hạnh phúc của bà hãy còn làm một cô giáo đứng trên bục giảng, dạy học, truyền thụ kiến thúc, thì bất cứ lúc nào có cơ hội là bà thực hiện công việc ấy. Trong mơ bà cũng khát vọng dạy học: bà đứng trên bục, còn các em học sinh thì hạnh phúc nghe bài, các em đến từ mọi nơi, lúc trong xã, lúc trong huyện. Cái khát vọng ấy nhiều quá, trong đó bà cảm thấy có nhiều niềm vui tuổi già chưa từng thấy, bao nhiêu tình yêu tuổi trẻ và khát vọng, khiến bà thanh thản mỗi ngày, phải làm ngay, làm ngay, không phung phí thời gian đi hàng ngày, hàng giờ, để về sau phải xót xa hối hận. Lúc bấy giờ, bà lại nghe được trên quê hương còn rất rất nhiều em học sinh hoặc vì hoàn cảnh, hoặc bị tật nguyền hoặc vì nghèo đói, bệnh tật, mà phải thất học. Thế là năm 2002, bà đề nghị với địa phương xin phép mở lớp học tình thương ngay tại ngôi nhà nhỏ của mình. Ngay từ khi có ý định mở lớp học, bà Thông ấp ủ một hy vọng bé nhỏ mà chính bà cũng không thể tưởng tưởng nổi, bởi có nhiều em đến theo học đến thế. Không phải vô cơ mà người ta bảo rằng những đứa trẻ đáng thương và tội nghiệp nhất lại tìm đến với lớp học, chúng đã chờ đợi để nhìn thấy ánh sáng văn minh cũng bắt đầu từ đó. Nhưng đối với bà Thông thì tất cả vẫn còn bề bồn, bà vẫn đang hoàn thiện trong cương vị một người thầy của danh dự, tình yêu, và chỉ khác một điều với các lớp học khác là: không học phí, và như thế nghĩa là được thoải mái lĩnh hội kiến thức. Đôi khi, bà Thông cũng không tin suy nghĩ lẩn thẩn là lập ra lớp học ấy có thể mang lại cho các em kết quả tốt hơn ở nơi khác, nhưng càng không tin bao nhiêu, bà lại càng khát khao cho nó bấy nhiêu và muốn nó hoàn thiện mỗi ngày.
     Lớp học của bà giáo Thông có nhiều điều đặc biệt. Có em 8 tuổi nhưng có em 14,15 tuổi, thậm chí có em 19 tuổi. Mỗi em đến đây với một hoàn cảnh khác nhau, số phận khác nhau. Nhiều em không được lành lặn hoặc có hoàn cảnh khó khăn, trong đó đông nhất là số em mồ côi cả cha lẫn mẹ, những em học sinh bị khuyết tật bẩm sinh, không có khả năng. Dù thế nào đi chăng nữa, ngôi trường của bà giáo Thông vẫn chào đón các em như ngôi nhà thứ hai của mình. Vì khi được theo học ở đó, thì ít ra các em ngoài việc được chăm lo về đời sống, ăn đủ bữa, ngủ đủ giấc, học hành đến nơi đến chỗ, thì nói chung các em được phát triển toàn diện cả về thể chất và nhân cách. 
Nâng cánh những thiên thần
       Trước khi đến với lớp học của bà Thông, phải nói rằng các em đã có quãng thời gian khá chật vật. Các em như những đứa bé bị đẻ rơi đẻ vãi, bị ném ra bên lề của cuộc sống, ăn đói, mặc rách, nhưng cái chính ấy là không được biết đến học hành bao giờ. Nhưng giờ đây các em đã trở nên hạnh phúc hơn, vì có ngôi trường này, có cô giáo Thông, điều đó, chính điều đó đã an ủi các em rất nhiều. Đây như em Nguyễn Văn Dương. Dương sinh năm 2000, là học sinh lớn nhất lớp, nhiều năm sống và học tập dưới sự dìu dắt trực tiếp của cô Thông, nay đã là một thanh niên trưởng thành về mọi mặt. Nói về số phận của Dương, ai cũng thấy chạnh lòng, vì Dương bệnh Dow bẩm sinh, đi lại, nói năng đều rất khó khăn. Nỗi đau ấy đã khiến cuộc đời em chìm đắm trong cái gọi là định mệnh những tưởng chẳng bao giờ được đến trường, cất cao tiếng hát cùng chúng bạn. Thế mà chỉ có 5 năm chịu khó đèn sách, ngoài nỗ lực bản thân, cộng thêm sự dìu dắt của cô giáo Thông, em đã từ chỗ không biết đọc, biết viết, sống một cuộc sống gần như thực vật, đã từng bước vươn thành người gần như phát triển bình thường, thậm chí còn hoàn thiện về nhiều mặt. 
Hành trình tìm chữ cho học sinh tật nguyền vùng biển, đối với cô giáo Thông không phải bao giờ cũng dễ dàng. Những ngày đầu tiên ấy, lớp học đìu hiu, vắng vẻ, thực ra đó chỉ là một căn phòng chưa đừng 6m2. Nơi ấy cũng chính là ngôi nhà tạm bợ của bà giáo Thông cùng người chị gái mù. Hai người sống nương tựa vào nhau, như hai thân phận cô độc. Dù cả hai đều không có một gia đình riêng, theo đúng nghĩa đen, nhưng họ đã cùng nhau nguyện làm những công việc hữu ích. Năm học đầu tiên, thiếu thốn trăm bề, đến nỗi cô phải gỡ từng tấm ván trong ngôi nhà mình để làm bảng đen, làm bàn cho học sinh viết. Nghĩa là, để có thể truyền dạy được nhiều kiến thức cho các em học sinh, cô giáo Thông có thể vì mình mà bất chấp tất cả, ngay cả cuộc đời cô cũng chẳng có gì, chỉ có các em là nguồn an ủi tuổi già và chỉ có tiếng cười của các em mới khiến cô trở nên hiu quạnh. Trước tấm lòng cao cả, và một “bóng cây cao cả” về sự nghiệp giáo dục, năm 2010, chính quyền địa phương đã quan tâm bằng cách bố trí phòng học tại Trung tâm học tập cộng đồng để cô giáo Thông và các học trò của mình có thể yên tâm hơn trong đời sống. Lớp học mới rộng 20m với một tấm bảng to với 5 bộ bàn ghế đủ kiểu dáng, rất sạch sẽ. Đến với lớp học mới, các em càng có nhiều cảm hứng hơn để lao vào việc học, nhờ đó mà kết quả học tập đều tốt. 
      Ngồi học chung một lớp nhưng mỗi em được học một chương trình riêng, điều đó tạo ra sự khác biệt, khiến các em tìm được nguồn an ủi với việc học. Dù học lớp 1, lớp 2, lớp 5, các em vẫn được cô giáo Thông dạy cho tình thần đoàn kết, yêu thương, nó khích lệ các em bước ra ngoài cuộc sống vững vàng hơn. Bàn ghế, đạo cụ giảng dạy, phấn trắng, bảng viết, được cô phân thành các dãy ngăn nắp, rộng rãi, để các em có môi trường học tập lành mạnh. Phần bên phải được dành cho lớp 1, lớp 2, bên trái dành cho lớp 3,4, còn riêng phần lớp 5 được cô giáo ra bài rồi trực tiếp làm ngay trên vở.  Những em học sinh trong lớp được cô giáo chia thành các nhóm - nhóm trẻ câm điếc, nhóm trẻ thiểu năng, nhóm trẻ khuyết tật, như thế vừa giúp các em có thể hòa nhập dễ dàng. Để truyền đạt ý tưởng học tới các em học sinh câm điếc, bà dùng khẩu hình rõ ràng, lành mạnh, cơ mồm gần nhất với kiến thức, để các em có thể hiểu được ngôn ngữ và thông tin. “Chữ A, thì đọc há miệng rộng, chữ 0 miệng tròn như vành thúng, chữ E thì đầu lưỡi hơi cong lên, đồng thời cầm tay học sinh vừa viết chữ vừa đọc. Có những em phải học đến nỗi hàng năm trời mới ra được hơi, khi mà bật ra được hơi như vậy, các em có thể bắt đầu phát âm mạnh mẽ bằng miệng”, bà Thông tâm sự. Ở đây, từ mười mấy năm qua, chẳng bao giờ có tiếng trống trường thúc giục rồn rã lên lớp, những tiếng ồn ào, náo nhiệt nhưng bao giờ cũng trở nên nhẹ nhõm và ấm áp hơn bởi tình thương và những bài giảng đầy chân lý. Đây như cô bé Bùi Thị Xuyến là một ví dụ. Bà Thông nói rằng, những ngày đầu Xuyến đến với lớp của cô, bao nhiêu là khó khăn, bỡ ngỡ. Than ôi, khuôn mặt khuyết tật trở nên đáng thương hơn sau nhiều năm bạo bệnh, hai tay hầu như không có ngón nên đến năm 14 tuổi cũng chỉ lầm lũi theo mẹ ra biển, nhặt ngao, kiếm sống qua ngày. Rồi năm 2006, sau nhiều lần đắn đo và thuyết phục, Xuyến mới được đến lớp theo học. Ngày đầu đến lớp, Xuyến khóc mãi, sau cũng đỡ hơn. Bởi không phải mình em, mà nhiều em học sinh khác cũng thế, thậm chí nhiều em còn trốn học, vì thấy khó khăn trong việc tiếp cận. Có lẽ trong mấy năm theo học với cô Thông, Xuyến là người kiên trì nhất. Nếu như người ta mỗi ngày học một chữ thì Xuyến phải có đến hằng ba, bốn ngày mới đánh vần nổi vì bàn tay của mẹ không có khả năng cầm bút. Cô Thông phải cầm tay em, hướng dẫn mãi, nắn nót nét chữ như nắn nót nốt nhạc em mới viết được những nét cơ bản. Nhưng đổi lại Xuyến ham học, dù có đôi lúc nghễnh ngãng, em vẫn tiếp thu nhanh, dần quen với bút, và hẳn bây giờ viết chữ đẹp hơn rất nhiều. Em theo học chương trình tiểu học, đến cấp II, cấp II theo học khóa bổ túc. Đến nay đã trở thành học sinh đĩnh đạc, giỏi giang, là cô giáo tiểu học cũng đang viết tiếp ước mơ, là nối dài con chữ cho các học trò của mình. 
      Tôi lùi lại đằng xa lớp học, để ngắm tình thầy trò từ một góc quan sát nhỏ, từ phía tình thương và trách nhiệm. Vì nguyên cớ gì, một cô giáo, không gia đình riêng, không cần tiền bạc, danh vọng, không cần sự nổi tiếng, lại từ trái tim mình, bằng cách riêng của mình, thực hiện công việc “chở đò” thầm lặng đến thế. Tôi để ý rằng, hiện nay, ở nhiều ngôi trường, người ta chọn đầu vào học sinh khá gắt gao. Chẳng hạn như các em thiểu năng, bệnh tật, đều không được nhận theo học. Và thế là ước mơ thay đổi cuộc đời, thay đổi số phận của các em cứ ngắn với định kiến và thành kiến. Còn với cô giáo Thông, thì dù có nhiều học sinh bị bệnh “giời hành” như vậy đi chăng nữa, cô cũng dám bắt chấp cả cuộc đời mình để các em trở thành người như các em được sinh ra. Ghi nhận sự cống hiến ấy là 24 tấm bằng khen treo trang trọng trên góc tường loang nổ phấn trắng, bản đen được dành cho một tấm lòng hết “vì sự học ngày nay”. Và cũng năm 2017, cô giáo Thông được vinh danh ở hạng mục giải thưởng KoVa. Đối với cô giáo Thông, việc được vinh danh có giải thương hay không, điều đó đâu có trở nên quan trọng. Mà sang năm 70 tuổi, cô nghiệm ra hy vọng cần tiếp tục được thắp sáng bởi ngọn lửa học hành. Và khi mọi thứ tiến gần hơn đến chỗ ấy thì hy vọng nối dài con chữ được ấp ủ như một lời hứa, cả đời trăn trở. – không rụt rè, kín đáo, mà đã mãn nguyện. Những ngày tham gia dựng lớp, dựng trường từ buổi đầu, cô đã phải chịu đựng nhiều đến nỗi tự nhiên muốn tin rằng nhất định thế nào việc học cũng phải đem lại sự cần thiết đối với các em học sinh, cái sự mông muội, tăm tối phải thua ý chí, một khi các em đã cùng cô quyết tâm cho đến tận bây giờ. Và ở đây, trong ngôi trường giáo dưỡng nhỏ bé này, trong vòng tay của bà giáo, dường như có một ý chí mãnh liệt: đã học rồi nhất định sẽ làm người tử tế. Đôi khi, trong những phút lắng dịu thanh thản, một niềm tin ngọt ngào sẽ đến với lớp học của bà Thông, bà tin rằng một trăm phần trăm các em sẽ biết đọc, biết viết, cũng giống như bây giờ, dần dần từng chút một, không phung phí mất mát, bà sẽ tới được ngày cuối cùng khi nắm từng tay học sinh nói rằng các em đã thành công, sau khi đã trải qua quá trình rèn luyện nghiêm túc, ngay mà cô có thể thanh thản và nhìn nụ cười các bậc phụ huynh đón các em trở về nhà.  
      Nhưng những hy vọng tươi sáng như ánh mặt trời ấy không phải dễ dàng, để cho các em có thể không bao giờ sợ hãi, rụt rè về việc học. Cô đã tận tâm đến nỗi những bài giảng ngoài việc chuẩn bị cho sát với tầm hiểu biết của các em, cô cũng phải giảng đi, giảng lại nhiều lần, cốt để các em có thể nắm được nội dung cần thiết trong bài học. Vì cô hiểu rằng, đôi khi, với các em bình thường, có lẽ cũng chỉ mất đến một năm là các em thành thạo mặt chữ, biết tính toán sơ đẳng, còn đối với các em khuyết tật việc đó không thể cấp cập, sốt sắng, mà phải kiễn trì, vì thế dù có phải mất 3 hoặc 5 tháng đi chăng nữa để các em nhớ mặt chữ, cô cũng tình nguyện sằn sàng làm việc đó. Có nhiều em trong quá trình học vẫn giữ sự ngộ nghĩnh, như đang học thì khua chân múa tay, không chịu ngồi yên, có em làm lầm lì cả một ngày trời chẳng nói câu nào, nhưng tình thương của cô giáo Thông đã bằng cách nào đó phá tan lớp băng mà chúng khiến lòng các em trở nên hiểu biết.

       Ngay từ khi mở lớp học cô giáo Thông đã cân nhắc tính toán, khi truyền thụ kiến thức cho các em sẽ ra sao, và cô đã chọn phương pháp không thể dạy chung một giáo trình, nên bà tự tìm hiểu rồi sau đó biên tập hoặc sắp xếp cho chúng có hệ thống riêng, phù hợp với từng em. Những ngày trái gió trở trời, nhất là mùa đông băng giá, có em bị đau đầu đột ngột, chúng gào thét, chúng la hét inh ỏi, om sòm, chúng cào cấu liên hồi, chúng cắt xé quần áo. Hành động đó khiến các em bình thường cũng nhụt chít, thậm chí gào thét theo. Nhưng bằng tình thương của của một người bà, người mẹ giáo dục, cô đã dần dần từng bước khiến lòng các được sưởi ấm hơn. Cái mà cô nghiệm ra sau nhiều năm dạy học là, lúc ấy, dù thế nào cũng tuyệt đối không được quát tháo, la lắng, to tiếng, mà cần một cái đầu tỉnh táo, một trái tim ấm áp, chỉ bằng một cử chỉ âu yếm: ôm học trò vào lòng – điều đó khiến các em cảm thấy dù có bị lỗi cũng như được an ủi.
        Cho đến trước khi chia tay chúng tôi, bà giáo Thông thở hắt: “Bây giờ tôi trăn trở lắm. Dĩ nhiên cuộc sống trở nên tốt đẹp hơn, nhưng hiện nay số các em bị bệnh, bạo bệnh, bị từ chối hoặc các em không có điều kiện đến trường nhiều không đếm xuể. Làm sao để chúng ta xóa đi rào cản và định kiến. Làm sao để người thầy và người trò có thể xích lại gần nhau trong một mục tiêu chung vì sự nghiệp giáo dục, tôi chưa kịp hình dung xem đã có bao nhiêu ước mơ, bao nhiêu khát vọng bị lụi tàn gây ra từ việc không được giáo dục và học hành tử tế. Ngay lúc này đây, tuổi tôi không còn nhiều, nhưng những gì tôi đang làm cũng đã gắng sức, nhưng trong tôi vẫn còn một nguyện vọng là dù khó khăn thế nào thì cả xã hội chúng ta phải chung tay vì “sự học ngày mai” của các em, để các em được vươn cao, vươn xa hơn, đánh thức ước mơ trên con đường tiến gần hơn với chân trời tri thức. Chừng nào còn sức khỏe, còn trí lực, chừng đó tôi sẽ tiếp tục công việc giáo dục của mình. Vì điều đó với tôi, là một duyên nghiệp. Nếu cho chọn lại, tôi vẫn chọn công việc đó chứ không phải là một công việc nào khác”.
      Bà giáo Thông tóc điểm bạc, đi sau cùng. Bà rất ngại ca ngợi về công việc mình đang làm. Mỗi phòng học đi qua, cô đều khép lại cẩn thận, để các em học sinh đến đây cũng tìm được ước mơ của mình bắt đầu từ đó. Các em học sinh, chính các em đã níu bước chân bà giáo Thông lâu hơn với con đường giáo dục chân chính, số phận như một định mệnh gắn cô với nơi này, gió số phận vẫn thổi mạnh...
Theo Vũ Minh Phúc