HOTLINE: 024 38224030

“Nhân hàng Bò” - Một ngân hàng phát triển bền vững

   Để thực hiện Nghị quyết 30a/2008/NQ-CP của Chính phủ(1) về giảm nghèo nhanh và bền vững đối với 62 huyện nghèo trên cả nước; Chương trình mục tiêu quốc gia về giảm nghèo giai đoạn 2006 - 2010, bắt đầu từ tháng 01/2010, Trung ương Hội Chữ thập đỏ Việt Nam đã triển khai thực hiện dự án “Ngân hàng bò” ban đầu tại 14 huyện nghèo của 14 tỉnh. Mục tiêu chung của dự án là giúp đỡ các hộ gia đình có hoàn cảnh khó khăn tại các xã nghèo thuộc huyện nghèo phát triển chăn nuôi bò giống, phục hồi sinh kế, từng bước vươn lên thoát nghèo. Đây là một dự án phát triển cộng đồng, dựa vào cộng đồng vì huy động được người dân cùng tham gia nhằm giải quyết vấn đề xã hội bức xúc đó là vấn đề nghèo đói, vì vậy dự án có tính nhân đạo và nhân văn sâu sắc.

   Tiêu chí để chọn đối tượng hưởng lợi dự án là những hộ nghèo nhưng phải có lực lượng lao động, có đủ điều kiện về chuồng, trại để chăn nuôi. Các hoạt động chủ yếu của dự án bao gồm: (i) Tập huấn triển khai dự án và tiến hành lựa chọn địa bàn; bình xét đối tượng hưởng lợi; (ii) Lập kế hoạch mua và trao tặng bò giống; hướng dẫn kỹ thuật chăn nuôi an toàn cho các hộ nghèo(2); (iii) Quản lý quỹ bò và đảm bảo công tác thú y; (iv) Giám sát, đánh giá và báo cáo kết quả dự án.

  Có thể nói rằng, “Ngân hàng bò” là một mô hình rất đặc biệt. Nó đặc biệt không chỉ ở hiệu quả thiết thực do dự án mang lại mà còn cách thức duy trì và phát triển “ngân hàng” sống này. Ở mô hình “Ngân hàng bò”, mỗi hộ gia đình nghèo được trao tặng 01 con bò giống trị giá 7 triệu đồng từ nguồn kinh phí hỗ trợ của Trung ương Hội và một phần vốn đối ứng của địa phương. Bò giống sau khi nuôi nếu đẻ lứa đầu là bê cái thì hộ hưởng lợi tiếp tục chăm sóc bê con thêm 6 tháng tuổi, sau đó sẽ chuyển giao con bê này cho hộ nghèo khác nuôi. Sau khi trao lứa bê đầu tiên, hộ hưởng lợi được hoàn toàn sở hữu bò giống. Và cứ tiếp tục theo chu trình như vậy, số lượng bò giống sẽ được gia tăng, đồng nghĩa với việc ngày càng có rất nhiều hộ gia đình nghèo khác trong địa phương sẽ được trợ giúp. “Ngân hàng bò” sẽ ngày càng phát triển và mang lại hiệu quả bền vững. Một số trường hợp đặc biệt khác trong quá trình chăm sóc bò giống cũng được quy định rất cụ thể. Ví dự, trong trường hợp bò giống đẻ lứa đầu là bê đực, Hội Chữ thập đỏ huyện sẽ chịu trách nhiệm bán con bê đó; tiền bán 02 con bê đực được dùng để mua 01 con bê cái (!!!) và trao con bê cái đó cho hộ nghèo khác trong địa phương nuôi...(3).

   Bên cạnh đó, để theo dõi và quản lý chặt chẽ “Ngân hàng bò”, Hội Chữ thập đỏ các cấp lập sổ theo dõi “quỹ bò” để phản ánh tình hình đàn bò trong huyện liên quan đến bệnh tật, lứa đẻ, chi phí mua bán bò... Các hộ nuôi bò cũng có sổ theo dõi về tình hình bệnh tật, thời gian phối giống, chửa, đẻ bê con và giải trình việc bán bò sau khi đã thuộc quyền sở hữu chính thức của hộ gia đình…

   Sau 8 tháng thực hiện, dự án “Ngân hàng bò” đã đạt được những kết quả đáng mừng. Từ 14 huyện thuộc 14 tỉnh thụ hưởng dự án ban đầu, đến nay địa bàn hưởng lợi đã được tăng lên thành 25 huyện thuộc 17 tỉnh(4), trị giá 20 tỷ đồng với tổng số bò đã được cấp là 2.970 con, ứng với 2.970 hộ gia đình (khoảng 8.850 người) được hưởng lợi. Việc triển khai dự án tại các địa phương được thực hiện công khai, minh bạch, theo đúng quy trình hướng dẫn của Trung ương Hội. Chính quyền các cấp và người dân đều rất vui mừng khi nhận được sự trợ giúp từ dự án và thấy rằng đây là một sự trợ giúp rất hữu ích, thiết thực. Tại một số địa phương, người dân sẵn sàng bỏ thêm tiền để mua được con bò giống từ 48 - 62 tháng tuổi, hoặc con bò đang có thai, hay chuyển sang mua trâu giống…

   Dự án “Ngân hàng bò” có được kết quả như trên là nhờ đóng góp công sức chung của hệ thống Chữ thập đỏ các cấp. Trước hết, do có sự quan tâm, chỉ đạo tích cực của Thường trực và sự phối hợp chặt chẽ của các ban, đơn vị Trung ương Hội trong quá trình triển khai dự án. Bên cạnh đó, nhờ đội ngũ cán bộ và tình nguyện viên Chữ thập đỏ các cấp địa phương có kinh nghiệm, có tinh thần trách nhiệm, năng động, nhiệt tình. Một trong những nhân tố khá quan trọng, góp phần vào kết quả của “Ngân hàng bò” còn là sự quan tâm, phối hợp thực hiện của Ủy ban Nhân dân các cấp; các sở, ban, ngành địa phương đã hỗ trợ Hội Chữ thập đỏ trong việc thực thi dự án(5). Hơn nữa, đó là sự đóng góp của những người dân địa phương, họ đã chấp thuận và đồng tình, ủng hộ tham gia dự án.

  Từ thành công bước đầu, mô hình “Ngân hàng bò” của Hội Chữ thập đỏ Việt Nam sẽ tiếp tục mở rộng, phát triển tại 37 huyện nghèo còn lại với sự quan tâm, hỗ trợ từ các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước.

  Khi cụm từ “Ngân hàng bò” lần đầu được nhắc đến, không ít người ngạc nhiên vì cái tên nghe sao ngộ nghĩnh, nhưng giờ đây khi “quỹ bò” đã được tăng lên đáng kể thì ai ai cũng nở nụ cười rạng rỡ và vui mừng bởi họ biết rằng đó là một ngân hàng của tình đoàn kết, của tình thương yêu giúp đỡ nhau trong hoàn cảnh khó khăn và đó sẽ là “Một ngân hàng phát triển bền vững”.

--------------------------------------------

(1) “Nghị quyết về Chương trình hỗ trợ giảm nghèo nhanh và bền vững đối với 61 huyện nghèo” (số 30a/2008/NQ-CP ngày 27/12/2008 của Chính phủ).

(2) Bao gồm: chuyển giao tiến bộ khoa học, kỹ thuật cho đội ngũ cán bộ, tình nguyện viên thuộc các tỉnh, các huyện hưởng lợi của Chương trình (10 tình nguyện viên/1tỉnh); trang bị tài liệu về chăn nuôi và cách hỗ trợ giúp đỡ nhau trong cộng đồng; tài liệu hướng dẫn hỗ trợ thoát nghèo; xây dựng năng lực phát triển cộng đồng bền vững, nâng cao hiệu quả hoạt động nhân đạo và vai trò điều phối của Hội Chữ thập đỏ trong các hoạt động nhân đạo.

(3) Sau khi mua bê cái, nếu còn dư tiền, Hội Chữ thập đỏ huyện quản lý và đưa vào quỹ chi phí cho công tác thú y và hỗ trợ quản lý dự án. Trường hợp rủi ro, bất khả kháng: trong quá trình chăn nuôi, bò giống tại hộ hưởng lợi bị mất không rõ nguyên nhân hoặc bị chết, Hội Chữ thập đỏ xã lập biên bản có sự xác nhận của UBND xã và hộ hưởng lợi. Bò chết sẽ được người dân đem bán, số tiền thu được một phần đưa vào quỹ quản lý bò do Hội Chữ thập đỏ huyện quản lý (50%), số còn lại do hộ gia đình giữ để mua gia súc khác chăn nuôi (50%). Nếu bò cái không thể đẻ được do cơ quan thú y xác nhận thì được đem đấu giá chậm nhất sau 2 năm nuôi dưỡng và được phân chia 50% - 50% giữa Hội Chữ thập đỏ huyện và hộ chăn nuôi.

(4) Gồm: Mèo Vạc (Hà Giang), Thông Nông (Cao Bằng), Mường Khương (Lào Cai), Sốp Cộp (Sơn La), Mường Tè (Lai Châu), Mường Nhé (Điện Biên), Quan Sơn, Lang Chánh (Thanh Hóa), Kỳ Sơn, Nam Đàn, Quế Phong (Nghệ An), Minh Hóa (Quảng Bình), Đăk Rông (Quảng Trị), Phước Sơn (Quảng Nam), Tây Trà, Ba Tơ (Quảng Ngãi), Vĩnh Thạnh (Bình Định) và Tu Mơ-rông (Kon Tum), Bắc Ái (Ninh Thuận), Tân Sơn (Phú Thọ), Na Hang (Tuyên Quang). Trong quý III/2010, được sự trợ giúp của Hiệp hội Chữ thập đỏ và Trăng lưỡi liềm đỏ quốc tế, Trung ương Hội mở rộng dự án “Ngân hàng bò” thêm 4 huyện thuộc Quảng Nam, Gia Lai và Bình Định, nâng số huyện được hưởng lợi từ dự án lên 25 huyện nghèo.

(5) Ủy ban Nhân dân các cấp: tạo điều kiện thực hiện và cam kết đối ứng thực hiện dự án, chỉ đạo các sở, ngành liên quan với trách nhiệm cụ thể cùng phối hợp với Hội Chữ thập đỏ các cấp thực hiện dự án tại địa phương. Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, cụ thể là Chi Cục thú y của tỉnh, Phòng Nông nghiệp huyện: trực tiếp phối hợp với Hội Chữ thập đỏ tỉnh thực hiện các hoạt động, đưa đề xuất các loại bò giống phù hợp tại địa phương, kiểm định và thông báo về chất lượng bò của các hộ chăn nuôi.